Wednesday, 17 September 2014

CỘNG SẢN ÁC SỐNG DAI, TẠI SAO ? (Vi Anh - Việt Báo)




17/09/2014

Tin Đài VOA, tiếng nói của chánh phủ Mỹ, loan tải ngày 15.09.2014, “HRW công bố phúc trình đầu tiên về nạn công an VN bạo hành”. Phó Giám đốc phụ trách khu vực Châu Á thuộc Human Rights Watch nói “Các trường hợp thường dân bị hành hung, sát hại ngay trong đồn công an đã trở nên quá phổ biến đến nỗi ngay cả báo chí kiểm duyệt gắt gao của nhà nước cũng đã loan tải các thông tin này… nạn nhân bị công an bạo hành đa số là thường dân bị tố cáo vi phạm các tội vặt vãnh như tranh chấp trong gia đình hay vi phạm luật giao thông. Tuy nhiên, vẫn theo Human Rights Watch, thế giới bên ngoài vẫn chưa ghi nhận đúng mức độ của vấn nạn đang lan tràn này và báo cáo sắp công bố của tổ chức sẽ hé lộ tình trạng khủng hoảng nhân quyền còn bị che giấu, vốn gây tác hại nghiêm trọng đến đời sống thường nhật của người dân Việt Nam.”

Người Việt ai cũng biết công an ở VN là cánh tay mặt của Đảng Nhà Nước CS. CS ác với dân VN ở Miền Bắc hơn 70 năm và Miền Nam gần 40 năm. Người Việt bình dân thường than, không biết tại sao CS ác với dân lại sống dai quá. Một chánh trị gia người Anh là Edmond Burke có một câu nói để đời: “Điều duy nhất giúp cái ác chiến thắng là những người tốt không làm gì cả”. Có thể thấy ý nghĩa của câu trả lời này qua bang giao và giao thương của các siêu cường tự do, dân chủ trên thế giới đối với hai chế độ CS, Trung Cộng và Việt Cộng, độc tài đảng trị toàn diện ác ôn với dân chúng của họ và của các nước láng giềng.

Một, Trung Cộng ác đức đến mức coi phụ nữ như súc vật. Mới đây Le Nouvel Observateur của Pháp có phân tích cuốn sách «Con đường tối mịt» (La route sombre), tác giả là Mã Kiến (Ma Jian), một người TQ lưu vong đang sống tại Luân Đôn. Nội dung đọc thấy muốn kêu trời về thể thức TC đối với phụ nữ Trung Quốc. RFI điểm báo đi tựa đọc rùng mình: «Tại Trung Quốc, phụ nữ là gia súc ». Đó là hành động tàn ác của TC thi hành trong chính sách Đảng cưỡng bức gia đình Trung Hoa một con. Tác giả tường thuật “tại tỉnh Sơn Đông, 20,000 phụ nữ bị buộc phá thai đến mức bệnh viện quá tải phải dựng lều ngoài đường để làm việc. Thai nhi bị vứt xuống giếng, đến nỗi mùi hôi thối kéo dài trong nhiều tháng... Theo ông, phương Tây đã không biết phê phán tội ác của Bắc Kinh mà còn tiếp đón các quan chức Trung Quốc với đầy sự tôn trọng trong khi Trung Quốc lại ức hiếp chính dân của mình một cách vô đạo đức như vậy.”

Hai, TC cướp nước, giết dân, diệt đạo của người Tây Tạng và Duy ngô nhĩ. Tăng ni, Phật tử Tây Tạng hàng chục người đã tự thiêu, hàng ngàn Phật tử và người dân yêu nước Tây Tạng đã biểu tình bị TC đàn áp đẩm máu vì TC độc tài, độc ác. Họ bách hại Phật Giáo, cào bằng văn hóa Tây Tạng, xâm thực quê cha đất tổ của người Tây Tạng, giành dân chiếm đất của người Tây Tạng sáp nhập làm tỉnh Thanh Hải của TC. Vị lãnh đạo tâm linh và thế quyền của Tây Tạng Đức Đạt Lai Lạt Ma phải bôn ba khắp các siêu cường mấy chục năm rồi.

Dân tộc Duy ngô nhĩ bị TC chiếm đất nước, cấm theo đạo Hồi, đưa người Hán qua, biến người Duy ngô nhĩ thành công dân hạng hai, lấy quê cha đất tổ của người Duy ngô nhĩ làm tỉnh Tân Cương trực thuộc TC. Đến đổi người Duy ngô nhĩ phải lấy mạng đổi mạng, đấu tranh cảm tử vói TC, để đánh động lương tâm, đạo lý Nhân Loai, công luận thế giới.

Thế mà hơn nửa thế kỷ TC gây tội ác diệt chủng, chống nhân loại mà chưa thấy một hành động can thiệp cụ thể nào của các siêu cường. Các siêu cường không dám can thiệp đủ vào vấn đề bình quyền của phụ nữ Trung hoa, người dân Tây Tạng, Duy ngô nhĩ. Thế giới thụ động, bất động, không làm gì cụ thể trước tội ác trời không dung, đất không tha, Loài Người nguyền rủa của TC. Chánh yếu là vì e ngại đụng chạm TC, thiệt hại quyền lợi đất nước nhân dân mình. Trong chánh trị, ngoại giao người ta để quyền lợi vật chất lên trên và dễ dàng hy sinh những giá trị đạo lý, pháp lý của Loài Người.

Ba, Việt Cộng ác ôn với tôn giáo, với lương dân VN trên 70 năm ở Miền Bắc và 40 năm ở Miền Nam mà càng ngày càng nhiều nước mở bang giao và giao thương với Đảng Nhà Nước CSVN. Người Việt trong nước, các tôn giáo thuần túy muốn được độc lập tu hành, người Việt yêu nước thương dân bị CS áp bức bóc lột lên tiếng vận động cho tự do, dân chủ nhân quyền VN một cách ôn hòa càng ngày CS VN độc tài, độc ác càng bắt càng nhiều, càng hình sự hóa thành tội hình trừng phạt rất nặng.

Và người Việt tỵ nạn CS, hằng triệu người định cư tại các siêu cường đã quốc tế vận, đấu tranh cho tự do tôn giáo, tự do dân chủ nhân quyền VN hơn nửa đời người, mà các siêu cường hầu như không có một hành động nào coi cho được – xin nhấn mạnh là hành động chớ không phải lời khuyến cáo, các quyết nghị không có giá trị cưỡng hành – để áp lực CS Hà nội qua ngọai giao và giao thương. Kể cả việc đặt điều kiện chánh trị tự do vào kinh tế, viện trợ, cho vay, giao thương cũng chẳng nước nào làm.

Bốn và sau cùng, CS ác sống được, sống dai là vì người tốt thụ động, bất động. Các siêu cường trong Thế Giới Tự do, như Mỹ, Pháp, Đức, Anh, Úc, v.v... nhân dân và chánh quyền thừa biết CS ở Trung Quốc và VN là độc tài, độc ác. Họ biết cái Ác của độc tài CS đang lộng hành ở TQ và VN. Bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, bất cứ người dân nào, cái Ác của độc tài cũng có thể ập tai họa xuống người dân. Chế độ CS Bắc Kinh và CS Hà nội có một rừng luật, nhưng người dân không được luật pháp bảo vệ vì cán bộ đảng viên lộng hành xài luật rừng với dân. Quốc tế chẳng những biết mà còn thừa biết nữa.Thế nhưng quốc tế không có hành động gì can thiệp cụ thể để cứu đồng lọai, thế nên cái Ác độc của CS tiếp tục lộng hành, phát tác.

Chẳng những các siêu cường của Thế Giới Tự do không hành động trừ gian, diệt ác mà còn coi quyền lợi vật chất giao dịch với CS cao hơn đạo lý Con Người, cao hơn niềm tin, giá trị truyền thống của nước mình, là tự do, dân chủ, nhân quyền. Các siêu cường Tây Phương này ngày càng mở rộng bang giao và giao thương khiến chế độ độc tài, độc ác thêm phương tiện làm ác với dân nữa./.(Vi Anh)



ĐỌC SÁCH "CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT 1954-1994" (Lâm Thanh Liêm - NXB Nam Á)




samedi 19 mars 2011

Cải Cách Ruộng Đất (1954-1994) – Lâm Thanh Liêm: Phần 1    —   Phần 2    —   Phần 3   —   Phần 4   —    Phần 5   —   Phần 6   —   Phần 7   —   Phần 8   —    Phần 9  —  Phần 10    —   Phần 11   —   Phần 12   —   Phần 13   —   Phần 14   —    Phần 15   —    Phần 16  —   Phần 17   —   Phần 18   —   Phần 19   —   Phần 20   —   Phần 21   —   Phần 22    —    Phần 23   —  Phần 24    —   Phần 25   —   Phần 26   —   Phần 27   —   Phần 28   —   Phần 29   —   Phần 30   —   Phần 31   —   Phần 32   —   Phần 33   —   Phần 34   —   Phần 35   —   Phần 36    —   Phần 37   —   Phần 38   —   Phần 39   —   Phần 40   —   Phần 41   —   Phần 42   —   Phần 43    —   Phần 44   —   Phần 45   —   Phần 46    —  Phần 47   —   Phần 48   —    Phần 49   —    Phần 50   —   Phần 51   —  Phần 52
(NXB Nam Á/ LLĐĐ).



CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT & CÁC DI SẢN (Nguyễn Hưng Quốc)








17.09.2014

Lần đầu tiên, cuộc cải cách ruộng đất của đảng Cộng sản ở miền Bắc được triển lãm tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Hà Nội vào đầu tháng 9 vừa rồi. Bản thân cuộc cải cách ruộng đất đã đầy tai tiếng. Cuộc triển lãm nhân kỷ niệm 60 năm của cái gọi là vận động cải cách ruộng đất ấy cũng đầy tai tiếng. Trên rất nhiều diễn đàn, nhất là các diễn đàn mạng, người ta ôn lại những kỷ niệm kinh hoàng về chiến dịch đầy máu và nước mắt ấy.

Chính sách cải cách ruộng đất được đảng Cộng sản tung ra vào năm 1946, tức một năm sau khi giành được chính quyền và cũng là năm đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp, lúc đảng Cộng sản chỉ chiếm các vùng nông thôn và rừng núi. Giai đoạn đầu, Cộng sản chỉ tịch thu đất đai của Pháp và một số người bị coi là tay sai của Pháp để cấp cho nông dân nghèo. Giai đoạn sau, từ 1950-1953, họ cắt giảm địa tô, bãi bỏ tiền thuê ruộng và đánh thuế nặng các địa chủ. Giai đoạn thứ ba, từ năm 1954 đến 1957, mới thực sự là cải cách ruộng đất theo đường lối của Mao Trạch Đông.

Nội dung chính của cải cách ruộng đất giai đoạn thứ ba này không phải chỉ là tịch thu ruộng đất của địa chủ để cấp cho nông dân hay giảm tô, giảm tức như giai đoạn trước. Cuộc cải cách ruộng đất lần này còn nhắm đến mục tiêu tiêu diệt những thành phần họ cho là địa chủ, cường hào ác bá, những kẻ vừa theo giặc (Pháp) vừa bóc lột dân nghèo. Hình thức chính của cuộc cải cách là đấu tố và sau đó, xử tội hoặc tù giam hoặc tử hình.

Ở đây, có mấy điều đáng nói.

Thứ nhất, dưới sức ép của các đoàn cố vấn Trung Cộng, đảng Cộng sản Việt Nam quy định một cách máy móc số lượng địa chủ chiếm 5,68% dân số ở nông thôn. Bởi vậy, ở nhiều địa phương nghèo khổ, những gia đình có một hai con heo (lợn) và một khoảnh ruộng nho nhỏ đã bị liệt vào thành phần địa chủ hay phú nông.

Thứ hai, trong việc xét xử, người ta không dừng lại ở phạm vi kinh tế mà còn mở rộng sang lãnh vực chính trị: Nếu những người gọi là địa chủ hay phú nông ấy có chút quan hệ với chính quyền Pháp lúc bấy giờ, họ bị vu tội phản quốc hay phản động bên cạnh tội bóc lột. Để luận tội, người ta không cần điều tra; người ta chỉ xúi giục những người được xem là bần nông hay cố nông lên tố cáo và hạch tội. Dựa trên các lời hạch tội và tố cáo ấy, người ta sẽ xử tội tội nhân.

Thứ ba, hình thức xử tội rất dã man: Có nơi xử bắn, có nơi chôn sống hoặc bắt nhịn đói nhịn khát đến chết.

Bàn về cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc, lâu nay, người ta chỉ tập trung vào tội ác của đảng Cộng sản trong việc giết oan nhiều người dân vô tội. Nạn nhân tiêu biểu nhất, được nhiều người nhắc đến nhất là bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu Cát Hanh Long ở Hà Nội. Bà giàu, ừ, rất giàu. Nhưng bà lại là người ủng hộ đảng Cộng sản và Việt Minh một cách nhiệt tình và tích cực. Ngay sau Cách mạng tháng Tám, vì thiếu ngân sách, đảng Cộng sản tung ra chiến dịch “Tuần lễ vàng” và kêu gọi dân chúng tham gia, riêng bà Năm tặng đến mấy trăm lượng, chưa kể nhà cửa và thực phẩm. Bà cũng giúp đỡ rất nhiều cán bộ lãnh đạo của cộng sản. Cả Trường Chinh, Phạm Đồng và Lê Đức Thọ đều được bà xem như con nuôi. Ngoài ra, bà có người con ruột tham gia Việt Minh, vào bộ đội, và lên đến chức trung đoàn trưởng. Vậy mà bà vẫn bị giết. Chỉ vì những lời tố cáo vẩn vơ đâu đó.

Bên cạnh sự độc ác, đảng Cộng sản còn mắc một lỗi khác: quá lệ thuộc vào Trung Quốc. Thời ấy, các đoàn cố vấn của Trung Cộng tấp nập sang Việt Nam (miền Bắc) để huấn luyện cán bộ Việt Nam, thậm chí, để chỉ đạo giới lãnh đạo Việt Nam. Tỉ lệ hơn 5% dân số ở nông thôn là địa chủ là do các cố vấn Trung Quốc đặt ra. Nhiều người còn tiết lộ, trong vụ xử tội bà Nguyễn Thị Năm, giới lãnh đạo miền Bắc, kể cả Hồ Chí Minh, đều biết các lời tố cáo là sai, nhưng dưới sức ép của các cố vấn Trung Cộng, họ vẫn nhắm mắt để mặc cho bà Nguyễn Thị Năm chết một cách thảm khốc và oan ức.

Theo tôi, ngoài hai vấn đề độc ác và lệ thuộc Trung Cộng nêu trên, có một khía cạnh khác quan trọng không kém trong các di sản của cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc: Nó phá nát đạo lý truyền thống Việt Nam, trước, trong quan hệ làng xã, sau, ngay trong phạm vi gia đình.

Tất cả các nhà nghiên cứu văn hóa truyền thống Việt Nam đều nhận định giống nhau: làng xã là một đơn vị đặc biệt mang dấu ấn rất Việt Nam. Trong làng, dĩ nhiên có người giàu và người nghèo, vẫn có bóc lột và áp bức, nhưng dù vậy, quan hệ giữa người với người, nói chung vẫn tốt đẹp. Họ đoàn kết với nhau trong việc bảo vệ quyền lợi của làng cũng như trong việc duy trì những truyền thống văn hóa tốt đẹp của làng. Chính vì vậy, rất ít người muốn đi xa khỏi làng. Người ta quyến luyến làng và tự hào về làng. Trong cuộc cải cách ruộng đất, tất cả những quan hệ và tình tự ấy đều bị phá vỡ. Những người dân nghèo được các cán bộ xúi đứng ra tố cáo những người giàu có. Có khi là tố cáo những tội thật. Nhưng phần lớn, căn cứ trên con số trên dưới 80% xử oan, chỉ là những lời bịa đặt do các cán bộ từ trên xuống mớm vào miệng họ. Qua các cuộc tố cáo và hảnh quyết dã man ấy, mọi người trở thành kẻ thù của nhau. Không ai còn tin tưởng ai nữa. Nhà có con gà chết dịch, muốn làm thịt ăn, người ta cũng phải ăn giấu ăn giếm, lông phải chôn thật kỹ, để khỏi bị tố cáo là địa chủ hay phú nông.

Không những phá vỡ quan hệ trong làng, các cuộc vận động cải cách ruộng đất còn phá vỡ quan hệ trong gia đình với cảnh con tố cha, vợ tố chồng. Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, để bảo vệ truyền thống đạo lý trong gia đình, vua chúa thường ra lệnh cấm không cho cảnh vợ tố chồng hay con cái tố cáo cha mẹ. Ở miền Bắc, ngược lại, ngay sau khi vừa nắm chính quyền, đảng Cộng sản đã xúi giục những người thân nhất trong gia đình tố cáo nhau. Cuối cùng, không ai còn tin tưởng ai nữa.

Theo tôi, một công trình nghiên cứu nghiêm túc về các di sản của cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc trong mấy năm, từ 1954 đến 1957, là điều rất cần thiết. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết tổng số các nạn nhân bị giết chết cũng như tổng số những người bị bắt bỏ tù và tịch thu tài sản. Chúng ta cũng chưa biết thật rõ những tác hại tinh thần của nó trong đời sống xã hội cũng như trong quan hệ giữa người và người.

Còn có rất nhiều điều chúng ta chưa biết.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.


CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT VỚI NHÀ ÔNG NGOẠI TÔI & NHÀ TÔI (Từ Anh / Quê Choa)




Từ Anh/Quê Choa
17-09-2014

Ông ngoại tôi tên là Chu Đinh Hoan, sinh năm 1894 tại thôn Phượng Kiều, xã Nam Cường, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong một gia đình nông dân có học.
 
Ông tôi dạy chữ Nho nên bà con trong làng thường gọi là "ông giáo Hoan". Học trò khoảng 6, 7 người, quê ở Nam Đàn,  Đức Thọ, Hương Sơn. Ông tôi dạy những người đã lớn tuổi chứ không phải các trò nhỏ. Học trò có người đã có vợ. Thường thì có 2, 3 người ăn ở ngay nhà ông, mỗi tháng về nhà một hai lần. Bà tôi lo cày sâu cuốc bẩm, làm thêm nghề chăn tằm.

 Ông tôi là một ông giáo mẫu mực nên rất được học trò kính trọng. Tết năm Đinh Mão 1927, học trò của ông tặng thầy bức hoành phi sơn son, có khắc 2 chữ "Đẩu vọng" thếp vàng. Sau này bố tôi giải thích cho tôi rằng học trò của ông coi ông như ngôi sao bắc đẩu, các bác ấy luôn luôn nhìn vào đó để định hướng đi.
 
Năm 1930, ông tôi và người em ruột là Chu Đình Đệ gia nhập đảng cộng sản Đông Dương. Cuối năm 1931, khi phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bắt đầu rơi vào cảnh thoái trào, hai anh em ông tôi bị Pháp bắt cùng với nhiều đồng chí khác. Gia đình ông tôi bị tịch thu tài sản, hai anh em cùng bị xử tù 5 năm và cùng bị giam tại lèn Kim Nhan thuộc huyện Anh Sơn.
 
Không biết vào tù bị tra khảo, đánh đập thế nào mà khi thả về, ông tôi bị lệch một bên người, lưng còng xuống. Cả hai anh em bị ốm, phải phục thuốc hàng năm trời. Ông Chu Đình Đệ thì mất sau đó mấy năm, để lại bà mới hơn 30 và  2 người con dại, cậu Đàn và dì Nữ.
 
Vì ốm yếu, ông tôi không "thoát li" mà ở nhà làm ruộng, cũng không dạy học nữa. Tuy vậy, ông vẫn rất tận tâm với đảng. Ông đã bồi dưỡng, dẫn dắt bố tôi, con rể ông bà là Từ Đức Xuân và người con cả  là Chu Mai hoạt động từ trước Tổng khởi nghĩa. Sau 1945, ông lại bồi dưỡng cho người con trai thứ là Chu Thành Phiên (sinh sau mẹ tôi) và chồng dì tôi, chú Hồ Duệ, vào đảng năm 1950, thời đảng đang "giải tán". Cậu Mai bị dị tật bẩm sinh (hàm ếch) nên ông để ở nhà, lập gia đình rồi ra ở riêng, tham gia cấp ủy.
 
 Năm 1950, khi mẹ tôi còn mang thai em gái út của tôi, ông động viên bố tôi (đang làm giáo viên ở Nghi Lộc) thoát li và được tổ chức phân công vào vùng ''Bình Trị Thiên khói lửa" làm giáo viên tiểu học. Khi mặt trận Bình Trị Thiên bị vỡ, bố tôi được điều ra Nghệ An.
 
 Năm 1951, ông lại cho cậu Phiên , khi đó đang dạy học ở Nghi Lộc tòng quân khi cậu mới cưới vợ chưa được 6 tháng và mợ đang mang thai 2 tháng. Cậu sang Thượng Lào chiến đấu và hi sinh tại đó năm 1953. Khi nhận giấy báo tử, bà ngoại tôi khóc ngất, ông tôi nằm bỏ cơm 2 ngày. Mợ tôi như người phát điên, gào khóc suốt ngày, xỏa tóc đi khắp xóm. Đến nay, đã bằng rất nhiều cách, kể cả "ngoại cảm", mộ cậu tôi vẫn chưa được tìm thấy.
 
Cuối năm 1955, Cải cách ruộng đất đợt VI lan đến xứ Nghệ.
 
Gia đình ông ngoại tôi bị quy là địa chủ kiêm phản động. Cái nhà ngói 5 gian bị tịch thu. Ông, bà và cậu út xuống ở nhà bếp. Trâu lợn chó gà bị bắt hết. Bà tôi và cậu út phải cuốc đất và kéo bừa thay trâu.
 
Họ bắt ông tôi ra cho nông dân đấu tố. Ông tôi không thuê mướn ai nên khó quy là "bóc lột". Họ đấu ông tôi tội phản động. Họ bảo ông tôi là "Quốc dân đảng" chui vào đảng  công sản Đông Dương để phá đảng. Đi tù là "khổ nhục kế" để che mắt thiên hạ mà thôi. Họ bảo trong tù, ông tôi khai báo các cơ sở đảng cho mật thám bắt nhiều đảng viên. Họ còn bảo ông tôi xúi bố tôi vào Bình Trị Thiên để bắt liên lạc với Pháp nhằm dẫn Pháp về đánh vào vùng tự do Nghệ An. Toàn những chuyện trời ơi đất hỡi, vu vơ vút vít ở đâu đâu. Ông tôi không nhận tội nào cả. Nông dân tham dự cuộc đấu lại khản cổ gào: "Đả đảo thằng Hoan ngoan cố!", "Đả đảo! Đả đảo! Đả đảo!" "Kiên quyết đấu gục thằng Hoan tại chỗ!", "Kiên quyết! Kiên quyết!" Kiên quyết!".
 
Đấu 2 đêm liền không "gục", họ lại tiếp tục truy bức ông tôi tại nơi tạm giam mấy đêm liền, đêm nào cũng từ đầu hôm đến 2, 3 giờ sáng. Họ cùm chân ông tôi, đóng chốt thật chặt. Rất đau, nhưng ông tôi không khóc, chỉ nghiến răng và kêu trời.
 
Hăm tám Tết, họ cho ông tôi tạm về nhà. Mồng 2 Tết Bính Thân năm 1956, lúc bà tôi và cậu út ra đồng gieo lạc, ông tôi treo cổ tự tử. Đám tang ông tôi chỉ độ hơn mươi người. Cả nhà tôi 5 người, đội chỉ cho một mình mẹ tôi đi đưa tang, bốn cha con tôi phải ở nhà. Năm đó, tôi nhớ rõ, mấy tháng liền, đêm nào mẹ tôi cũng tấm tức khóc cha, người  như xác mắm.
 
Năm 2000, phía Pháp gửi tặng Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh mấy trăm hồ sơ của các đảng viên đảng Cộng sản Đông Dương bị bắt và bị xử tù năm 1930 - 1931. Căn cứ vào đó, Tỉnh ủy Nghệ An ra Quyết định công nhận ông tôi là đảng viên từ năm 1930, là Lão thành cách mạng. Cậu út tôi đem Quyết định đó lồng khung kính. Ngày giỗ ông tôi, cậu lại đem đặt lên bàn thờ.
 
 Ông tôi mất độ một tháng, gia đình tôi cũng bị quy là địa chủ. Bố tôi bị bắt, bị giam, có du kích gác. Tôi lúc ấy đã lớn, 12 tuổi, ngày hai bữa đưa "cơm" cho bố. Tôi bỏ học, đi mót khoai, mót lúa, cùng mẹ đi bắt hến ở sông Lam, đi bứt cây rành rành trên các đồi ở Hương Sơn về buộc thành chổi  bán... Dép guốc họ thu hết, chúng tôi phải đi chân đất. Em trai tôi lúc đó 7 tuổi cũng phải hàng ngày lẽo đẽo theo anh đi mót. Nông dân tịch thu mọi thứ được coi là "công cụ lao động", chỉ cho cả nhà tôi 1 cái cuốc, 2 cái liềm, 2 cái dao, 1 cái rựa. Họ niêm phong nhà ngói 3 gian, cho cả nhà tôi 5 người ở cái nhà bếp lợp tranh khoảng 12 m2.
 
Cuộc sống lúc đó thật cùng cực, đã khổ về vật chất lại nhục nhã về tinh thần. Ra đường cứ cúi mặt xuống mà đi, không dám nhìn ngang, nhìn ngửa, sợ bị quy là "dò xét". Anh em tôi đi mót, bị trẻ con nông dân đánh đập, xỉ nhục mà chả có ai bênh. Họ sợ bị quy là "bênh vực con địa chủ". Thậm chí có người còn "động viên" bọn nhỏ: "Đánh chết hết nòi địa chủ đi bay!". Nhiều hôm tôi và bố mẹ phải dậy lúc nửa đêm, lén hai em tôi để đi vào vùng núi Hương Sơn cắt rành rành về buộc làm chổi bán. Sáng ra, thức dậy không thấy bố mẹ, các em tôi sợ, ôm nhau khóc. Khóc chán, chúng lục khoai ăn. Chúng cứ ở trong nhà không dám ra đường vì sợ bị trẻ con nông dân đánh. Thường thì khoảng 8, 9 giờ tối, bố mẹ và tôi mới về đến nhà. Lúc đó, hai em tôi đã ôm nhau ngủ đói.
 
 Anh em ruột thịt nhà tôi đa số là địa chủ, không ai giúp được ai. Bà con họ hàng, xóm giềng thì sợ bị quy là "liên hệ" nên ít ai  dám cho củ khoai, mớ rau, bát gạo. Cạnh nhà tôi có bà Phú rất tốt bụng. Thấy cảnh nhà tôi khổ quá, bà gọi thằng em tôi đến ở nhà bà, chăn bò cho bà. Mới được 2 hôm, đội gọi bà lên, bắt bà  không được thuê em tôi chăn bò nữa.
 
Đầu cổng nhà tôi người ta treo một cái biển viết 3 chữ to: Nhà địa chủ. Người ta xúi giục theo dõi lẫn nhau, phát hiện cái gì thì cấp báo cho đội nên nhất cử nhất động trong thôn, đội và "cốt cán" biết hết.
Tôi nhớ hôm đấu bố tôi, mọi người tập trung đầy sân nhà ông Phớt, rễ chuỗi của đội. Các gia đình địa chủ bắt phải dự đấu tố, ngồi ở cuối sân. Dân quân áp giải bố tôi vừa đến đầu ngõ, ai đó trong sân đã hô to, rất đanh thép: "Đả đảo tên địa chủ Xuân!" Cả sân rần rần hô theo; "Đả đảo! đả đảo! Đả đảo!", "Kiên quyết đấu gục thằng Xuân tại chỗ!" " Kiên quyết! Kiên quyết! Kiên quyết!"; "Có khổ nói khổ, nông dân vùng lên!" " Vùng lên! Vùng lên! Vùng lên!"...
 
Bố tôi đứng dưới sân,  chếch bên phải Đoàn chủ tịch. Chủ tịch đoàn gồm 3 người, ngồi trên thềm, cao hơn sân khoảng nửa mét.
 
Những người lên đấu bố tôi đứng trên thềm, bắt bố tôi ngẩng mặt lên, chỉ nắm đấm vào mặt bố tôi, nghiến răng kể tội. Vì nhà tôi cũng nghèo, chỉ có cái nhà ngói 3 gian, dăm sào vườn, gần 2 sào đất hương hỏa do ông bà tôi để lại. Không phát canh thu tô nên chẳng có tội gì ghê gớm. Bố tôi người yếu, lại bị khoèo cánh tay trái, chỉ còn mỗi cánh tay phải. 3 anh em tôi còn nhỏ, một mình mẹ tôi không thể cáng đáng hết việc nên phải thuê người ở. Đó là tội bóc lột. Nhưng rất hài hước là đội "bồi dưỡng" cho chị Cúc, người ở của nhà tôi đấu bố tôi, chị không đấu. Chị nói: "Cậu mự nớ rất tốt với tui, coi tui như em ruột, đấu thì nói răng?".  Đội phải "bồi dưỡng' người khác đấu thay chị Cúc. Có người đấu tố bố tôi là "Quốc dân đảng", là phản động. Có người đấu tố bố tôi âm mưu giết ông ngoại tôi bằng thuốc độc để "bịt đầu mối". Có người đấu bố tôi, nói bố tôi trốn vào Bình Trị Thiên để hòng đi theo Pháp làm Việt gian... Nói tóm lại là "rất linh tinh". Bố tôi không nhận tội nào hết.
 
Bố tôi bị đi tù hơn 1 năm thì được thả về, chỉ còn da bọc xương. Ghẻ khắp người, phải tắm nước lá xoan ba tháng liền mới khỏi. Bố tôi lại còn bị sốt rét nữa, mỗi ngày lên 1 cơn vào buổi chiều. Uống thuốc vặt nửa năm mới dứt.
 
Lúc sửa sai, nhà tôi được "xuống" trung nông. Cái nhà ngói được trả lại nhưng vườn thì họ cắt cho hai nhà bần nông vào ở, mất hơn một nửa. Còn của cải thì bị đem chia "quả thực" hết, không trả cái gì.
 
Cứ sống lay lắt thế cho đến năm 1959, bố tôi xin quay lại nghề dạy học. Mẹ tôi vào hợp tác xã nông nghiệp. Tháng 2 năm 1965, tôi đi bộ đội, chủ yếu ở khu Bốn và B5. Mãi tới  30 tháng 10 năm 1975 mới được ra quân.
 
Đến hôm nay, ba anh em tôi ai cũng có gia đình, có cháu nội ngoại, con cái, dâu rể đều có việc làm.  Bố tôi được công nhận là "Cán bộ Tiền khởi nghĩa".
 
Bố mẹ tôi đồng cung, năm nay đã 92 tuổi, đang sống tại xóm Bệnh Viện, thị xã Thái Hòa, Nghệ An với gia đình chú em tôi.
 
Đó là "tên địa chủ" duy nhất của xã tôi hiện còn sống.
 
Tác giả gửi Quê Choa
Bài viết thể hiện văn phong và tác giả chịu trách nhiệm về nguồn tư liệu




View My Stats