Thursday, 24 April 2014

30/4 NỖI BUỒN & HY VỌNG (Kính Hòa - RFA)




Kính Hòa, phóng viên RFA
2014-04-24

Sinh viên Việt Nam tại Paris để tang cho một Đất Nước ngày 27 tháng Tư năm 1975 .  Files photo


Nỗi buồn của chiên tranh và sự lãng quên
Giữa tháng tư năm nay, trên một tờ báo lớn tại TP HCM chạy dòng tin rằng các tour đi biển nhân dịp lễ 30/4 đã kín chổ. Những câu hỏi như 30/4 đi đâu, xuất hiện nhiều trên các báo.
Ngày 30/4 thực sự trong hơn chục năm qua đã trở thành một ngày mà cư dân đô thị lên đường đi du lịch trong và ngoài nước, rồi các tụ điểm vui chơi giải trí cũng được bàn đến là liệu họ có tăng giá hay không,… Và thế là đôi khi người ta quên mất ngày 30/4 là một ngày lịch sử lớn nhất trong lịch sử Việt nam hiện đại.

Nhà văn Thùy Linh từ Hà nội cho chúng tôi biết về cảm tưởng của chị trong tháng tư năm nay:
Mọi người chẳng nhắc rằng ngày đó là ngày gì mà chỉ biết đó là ngày nghỉ, rủ nhau đi chơi ăn nhậu, chứ không ai nhắc sự kiện ngày 30/4 là ngày gì. Dần dần nó nhạt nhòa trong ký ức mọi người.”

Nhưng bên cạnh sự lãng quên đó, cũng trong thời gian hơn 10 năm trở lại đây, nhiều tiếng nói từ trong nước cất lên về ngày 30 tháng tư như là một nỗi buồn. Có lẽ đó là một Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh như ông mô tả trong quyển tiểu thuyết xuất bản hồi năm 1990, hay như câu nói nổi tiếng của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt vài năm trước khi ông mất rằng ngày 30/4 có hàng triệu người vui thì cũng có hàng triệu người buồn.

Nhà văn Thùy Linh nói tiếp:
 Người ta không còn nhớ ngày 30 tháng tư là một ngày chiến thắng hay đại thắng mùa xuân gì đó. Người ta chỉ nhìn vào cái hiện trạng đất nước thôi, rồi người ta liên hệ, liên tưởng… mà những liên tưởng như thế rất nhiều nỗi buồn.”

Niềm hy vọng
Biến cố 30/4/1975 đã bắt đầu sự hình thành nên một cộng đồng Việt nam tại hải ngoại mà nay đã lên đến hơn hai triệu người. Cứ đến ngày 30/4 là nỗi buồn lại kéo về, đến nay đã 39 năm. Và cứ đến ngày này người ta lại nghe đến những từ hòa hợp hòa giải.
Cụm từ này lại được nhắc đến rất sớm từ đầu năm nay bởi ông Thứ trưởng bộ ngoại giao Việt nam Nguyễn Thanh Sơn, khi ông tổ chức một nhóm lớn những người Việt hải ngoại về nước đi thăm quần đảo Trường sa. Chuyến đi được cho là một cố gắng chứng tỏ ý muốn hòa giải của chính phủ đương quyền tại Việt nam với cộng đồng Việt nam tại hải ngoại. Tuy nhiên lời phát biểu của ông Sơn về những người Việt bỏ nước ra đi tìm tự do sau năm 1975 rằng họ bị tuyên truyền một chiều, đã làm dấy lên sự phản đối của nhiều người Việt hải ngoại.

Ông Trần Giao Thủy làm trong ngành truyền thông tại Canada nói rằng những người ra đi sau 1975 chẳng phải bị tuyên truyền gì cả mà chẳng qua là họ không muốn sống với cộng sản mà thôi.

Ông Quốc Việt, người từng là nhân viên thiện nguyện tại các trại người Việt tị nạn ở Đông nam Á thì nói rằng sự hòa giải là nằm ở giữa nhà cầm quyền Việt nam với 90 triệu dân, chứ giữa những người Việt hải ngoại và người Việt trong nước không có gì phải hòa giải cả.

Trong một lần trao đổi với chúng tôi, một bạn trẻ lớn lên và học tập trong nước nói rằng chuyện hòa giải đó là của chính quyền vì chính họ là người đầu tiên nêu lên cụm từ ấy.

Trở lại sự kiện ông Nguyễn Thanh Sơn tổ chức chuyến tham quan-cầu siêu mà ông gọi là hòa giải, tiến sĩ Nguyễn Quang A, người từng đưa nhiều ý kiến phản biện lại chính phủ Việt nam nói:
Tôi nghĩ rằng có một chuyển biến gì đấy không lớn lắm về nhận thức cái ngày này. Động thái của bộ ngoại giao mời những đại diện của bà con ở nước ngoài thăm Trường sa cũng là một dấu hiệu nho nhỏ về một sự cải thiện gì đó mà đáng lẽ phải được xúc tiến từ lâu rồi.”

Có lẽ là từ sự chậm chạp ấy mà nhiều người cũng nói rằng không rõ chính quyền Việt nam có thật lòng làm cái điều mình nói hay không, mặc dù là sự giao thương qua lại giữa người Việt trong nước và hải ngoại đã bắt đầu từ lâu. Một lượng ngoại tệ từ cộng đồng hải ngoại gửi về Việt nam cũng được chính những giới chức có thẩm quyền ở Việt nam đánh giá cao.

Phát biểu về cộng đồng người Việt tại hải ngoại ngày càng lớn mạnh, Tiến sĩ Nguyễn Quang A nói:
Tôi nghĩ rằng trong cái bất hạnh cũng có cái may của nó. Rất là đau khổ rằng nhiều triệu người Việt nam đã phải ra đi trong mấy chục năm qua. Nhưng mặt khác đã tạo nên một cộng đồng đến 3 triệu người Việt ở khắp nơi trên thế giới. Và đó là một phần rất đáng kể của dân tộc Việt nam và rất là quan trọng đối với việc phát triển của dân tộc này. Từ việc giữ gìn truyền thống, những giá trị cốt lõi của dân tộc, cho đến những sự hiểu biết mới mà bà con ở nước ngoài tích tụ được. Đó là chưa nói đến tiềm lực kinh tế mà tôi chỉ nói đến mặt trí tuệ, mặt hiểu biết. Đó là một tài sản vô giá sẽ giúp cho việc phát triển đất nước trong tương lai.”

39 năm đã trôi qua và sự chia cắt dường như vẫn chưa kết thúc vì người ta vẫn còn nói đến hòa hợp và hòa giải. Bên cạnh đó lại bắt đầu có sự lãng quên qua những dòng chữ quảng cáo du lịch lạnh lùng trên báo chí. Nhưng đâu đó vẫn là những nỗi buồn của những người như nhà văn Thùy Linh, và niềm hy vọng của những người như tiến sĩ Nguyễn Quang A.


39 NĂM & CON ĐƯỜNG TIẾP TỤC (Lê Diễn Đức)




Thu, 04/24/2014 - 14:28 — ledienduc

Lại một 30 tháng Tư về!

39 năm, 40 năm và có thể còn lâu hơn, chúng ta mới có cơ hội xem xét lại ngày lịch sử này một cách nghiêm túc, công bằng và hợp lý.

Cái ngày mang tính bước ngoặt của lịch sử, "có triệu nguời vui và cũng có triệu người buồn". Đất nước thống nhất nhưng lại rơi vào vòng cai quản của chế độ cộng sản, độc quyền, toàn trị, vong bản và phi dân chủ.

Suốt từ năm 1954 trên miền Bắc và từ 30 tháng Tư năm 1975 trên cả nước, Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) cầm quyền, đưa đất nước đi trên con đường "định hướng xã hội chủ nghĩa" vô định.


Bộ máy phát xít

Bộ máy cầm quyền chuyên chính vô sản của ĐCSVN là một dạng thức của chủ nghĩa phát xít. Tôi nói như thế là vì hai hệ thống chính trị (phát xít và cộng sản) có nhiều điểm tương đồng.

Trong đối nội và đối ngoại của cả hai hệ thống áp dụng chính sách khủng bố, đe dọa công chúng. Anh ninh, mật vụ theo dõi toàn bộ xã hội, tìm mọi cách loại bỏ bất kỳ đối thủ chính trị nào. Những ai bị xem là kẻ thù đều bị kết án và giam giữ trong các trại cải tạo lao động. Với phương pháp khủng bố, bẩm báo, gieo rắc nghị kị, nhà cầm quyền đã tạo ra một không khí sợ hãi, không chỉ với kẻ thù mà với cả những người ủng hộ chế độ.

Cũng giống như chủ nghĩa phát xít, chế độ cộng sản thành lập tổ chức thanh niên, dạy dỗ họ rằng đất nước của họ là tươi đẹp nhất và nhồi sọ ý thức hệ toàn trị. Đối với đảng, thanh niên là một tài sản lớn, bởi vì họ là tương lai.

Cả hai hệ thống duy trì một chế độ độc tài, độc đảng, cấm mọi sự tồn tại của các đảng phái chính trị khác.

Bộ máy quyền lực của hai hệ thống được xây dựng dựa trên nguyên tắc cực kỳ tập trung. Công tác tuyên truyền hết sức quan trọng trong một nhà nước độc tài toàn trị. Nhà cầm quyền sử dụng nó để trưng diễn bộ mặt và có thể làm thay đổi thế giới.

Chủ nghĩa độc tài toàn trị hạn chế các quyền cơ bản của con người, ức chế sự phát triển của văn hóa, giáo dục và các giá trị tinh thần của dân tộc, đồng thời gây ra các vụ giết người hàng loạt. Trong mười thập kỷ qua, nhân loại đã trải qua nhiều đau thương, làm thay đổi khái niệm tổng thể về con người và nền văn minh. Chúng đã tác động lớn lên lịch sử và đời sống của nhân dân. Lý do chính của việc này là lợi ích của nhà nước độc tài quan trọng hơn cuộc sống của con người.

ĐCSVN còn đi xa hơn, tệ hại hơn cả chủ nghĩa phát xít. Công an giả mạo thường dân hoặc sử dụng dân phòng, thậm chí giới giang hồ, xã hội đen, côn đồ hoá và lưu manh hoá sự đàn áp.

Ngày 24 tháng 1 năm 2006, Với 99 phiếu thuận và 42 phiếu chống, các nước thành viên Nghị viện châu Âu đã phán quyết chủ nghĩa cộng sản là tội ác của nhân loại.

Tại Ba Lan, một nuớc cựu cộng sản, ở Điều 13 của Hiến pháp mới năm 1997 đặt chủ nghĩa cộng sản bên cạnh chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và cấm mọi hình thức hoạt động, tuyên truyền cho các chủ nghĩa này.

Hoà hợp hoà giải

Không thể hoà hợp hoà giải khi còn chế độ cộng sản. Chế độ này không có nhu cầu hoà hợp hoà giải, mà chỉ làm những động tác lừa mị, dối trá.

Bản thân giữa người Việt với nhau không cần bất kỳ sự hoà giải nào. Hàng năm vẫn có hàng trăm ngàn người Việt từ nước ngoài về thăm quê hương, sinh hoạt bình thường trong cộng đồng. Không có lòng căm thù lẫn nhau trong dân chúng mà chỉ có nỗi đau và lòng căm thù đối với chế độ cộng sản.

Thật khôi hài, gần đây, Nguyễn Thanh Sơn, Thứ trưởng ngoại giao, Chủ tịch Uỷ Ban người Việt ở nước ngoài, gọi những người tị nạn cộng sản là "nạn nhân của chiến tranh"!

Trừ một số chạy cộng sản trước và trong ngày 30 tháng Tư năm 1975, sau ngày này, cả nước hoà bình, thống nhất, làm gì còn chiến tranh nữa! Thế nhưng, hàng triệu người đã vượt biển, vượt rừng, bỏ nước ra đi, để lại sau lưng khoảng nửa triệu xác chết. Họ không phải là "nạn nhân của chiến tranh" mà là nạn nhân của chính sách giam giữ cải tạo hàng trăm ngàn quân dân cán chính của chế độ Sài Gòn, của chính sách cải tạo công thương nghiệp, tập đoàn hoá nông nghiệp, ngăn sông cấm chợ, cưỡng bức đi kinh tế mới, phân biết đối xử khắt khe với những ai liên quan đến "ngụy"...

Làm sao để có dân chủ

Nếu so với giai đoạn cách đây khoảng một thập niên thì tình hình xã hội Việt Nam có nhiều biến chuyển tích cực hơn.

Năm 2002, Lê Chí Quang chỉ vì những bài báo cảnh giác âm mưu thôn tính Việt Nam của Trung Quốc, mà đã bị kết án nặng nề 4 năm tù, bị đối xữ tệ hại khi bị bệnh, rồi bị chiêu dụ và vô hiệu hoá. Những cảnh báo của Lê Chí Quang đã hoàn toàn chính xác với cuộc tổng xâm luợc mềm của Trung Quốc hiện nay trên lãnh thổ Việt Nam.

Cùng một thời gian ấy, bác sĩ Phạm Hồng Sơn chỉ vì đã dịch bài "Thế nào là dân chủ" lấy từ trang Web của Toà đại sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội mà bị kết án "tội gián điệp" với 13 năm tù (phiên tòa phúc thẩm giảm từ 13 năm tù xuống còn 5 năm tù, 3 năm quản chế).

Xã hội Việt Nam giờ đây trưởng thành hơn về ý thức dân chủ và quyền con người. Có nhiều hơn những người dân trong nước ca thán chế độ và phản ứng bất thuận với các chính sách của nhà cầm quyền trên mạng xã hội mà không bị trấn áp.

Một số hội đoàn dân sự ra đời bất chấp ngăn cấm của chế độ như Hội Cựu Tù nhân Luơng tâm, Hội Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam, Văn đoàn độc lập, Hiệp hội Dân oan Việt Nam, Mạng lưới Bloggers Việt Nam..., mặc dù chưa có, hoặc không công khai ban lãnh đạo, hoạt động chưa có tổ chức quy củ, và đa phần đang ở trạng thái vận động, chưa kết tụ thành phong trào xã hội rộng lớn.

Nhà cầm quyền trong tiến trình hội nhập toàn cầu, vì những lợi ích kinh tế, bị áp lực quốc tế, lúc này lúc khác có vẻ "thoáng" hơn một cách khôn ngoan, nhưng vẫn giữ vững thái độ chính trị kiên quyết và dứt khoát với các đối tượng được xem là có thể tạo ra nguy cơ cho chế độ. 

Người Việt ở hải ngoại có vai trò hỗ trợ quan trọng trong việc thông tin và vận động quốc tế, nhưng đất nước đổi thay hay không phụ thuộc vào người dân trong nuớc. Thực tế của các nước cựu cộng sản Đông Âu cho thấy các đảng phái chính trị ở hải ngoại khó mà tìm được vị trí trên sân khấu chính trị khi Việt Nam có bầu cử tự do.

Chỉ khi nào các phong trào dân sự thật sự đi vào lòng người, lan toả rộng khắp, đặc biệt trong hơn 70% dân số sống ở nông thôn và dân lao động thành thị, lúc đó mới có khả năng nổ ra một cuộc cách mạng thay đổi.

Dân chủ sẽ có khi lực lượng đối lập hình thành, áp lực xã hội lớn, cuộc tranh đấu ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng tới nền kinh tế của đất nước. Lúc đó buộc nhà cầm quyền phải đối thoại và chuyển hướng.

Hoàn cảnh thực tế cho thấy không thể dùng biện pháp bạo lực để chuyển hoá chế độ mà chỉ có thể bằng sức mạnh của các cuộc xuống đường bất bạo động, nhiều khi phải chịu hy sinh, tổn thất; song song là sự ứng xử tỉnh táo, sáng suốt của những người đang nằm trong bộ máy cầm quyền. Hai yếu tố này chắc chắn phải đi đôi với nhau thì mới tránh một cuộc đổ máu không cần thiết. Hệ thống chính trị lạc hậu và ảo tưởng "định hướng xã hội chủ nghĩa" phải được huỷ bỏ toàn diện để thay thế bằng một thể chế khác tiến bộ hơn.

Kết luận

Xã hội bị băng hoại đạo đức, thói vô trách nhiệm của nhà cầm quyền, tư tưởng cam phận nô lệ, tội phạm gia tăng mọi nơi, tham nhũng ở mức độ thành những đường dây mafia, nợ nần của đất nước chồng chất... Tuy nhiên, trong những khó khăn ấy, nhà cầm quyền cộng sản vẫn còn kiểm soát được và vẫn không ngừng sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng, độc quyền để tuyên truyền, ngu tối hoá xã hội, và gia tăng bạo lực để củng cố và duy trì chế độ.

39 năm, một thời gian đủ dài dồn nén bất công, chán chường và phi lý để có thể bùng phát một cuộc cách mạng, nhưng nó vẫn nằm trong hy vọng và có lẽ còn phải trải qua khá lâu nữa.

© Lê Diễn Đức



NỘI CHIẾN KẾT THÚC : NƠI ĐỊA NGỤC, CHỐN THIÊN ĐƯỜNG (Nguyễn Lộc Yên - Danlambao)




4/24/2014       44 Comments

Trong những thế kỷ gần đây cả hai quốc gia Việt Nam và Hoa Kỳ đều có nội chiến Bắc-Nam. Tại nước Mỹ, sau ngày nội chiến kết thúc thì bên thắng trận không phân biệt đối xử với bên thua trận, cùng đoàn kết để xây dựng đất nước mỗi ngày mỗi cường thịnh hơn. Ngược lại tại Việt Nam sau ngày 30-4-1975, thì bên thắng trận thù hận bên thua trận gay gắt và chính sách hà khắc nhân dân đã gây cho đất nước càng ngày càng ngặt nghèo! Vậy trước khi nói về hiện tình của đất nước Việt Nam, tưởng cũng nên khái quát qua hai cuộc nội chiến của Việt Nam và Hoa Kỳ. 

Nội chiến Hoa Kỳ (1861-1865): 

Nội chiến Hoa Kỳ tức là cuộc Chiến tranh giữa các Tiểu bang (War Between the States), giữa Chính phủ Liên bang miền Bắc (Union: 25 tiểu bang) của nước Mỹ và 11 tiểu bang miền Nam. Sau khi Abraham Lincoln đắc cử trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 1860, tổng thống Lincoln được xem là vị anh hùng xả thân vì dân tộc, là người chủ trương bãi nô, ông là nhà đấu tranh mạnh mẽ cho quyền tự do của con người. Do đấy, các tiểu bang theo chế độ nô lệ ở miền Nam nước Mỹ, tuyên bố ly khai khỏi Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ (The United States of America: USA) và lập ra Liên minh miền Nam (Confederate States of America). 

Lúc 4:30 sáng ngày 12-4-1861, tướng Pierre Beauregard chỉ huy quân miền Nam bắn đại bác vào đồn Sumter ở Charleston, Nam Carolina, nội chiến Hoa Kỳ bắt đầu bùng nổ. Trận địa của nội chiến thường diễn ra tại các tiểu bang miền Nam nước Mỹ. 

Trong thời gian chiến tranh, tướng Ulysses S. Grant của Liên bang miền Bắc luôn nhắc nhở quân đội của mình: “Quân nhân miền Nam cũng là anh em của chúng ta”. Dù khó khăn bởi chiến tranh, nhưng đến ngày 31-1-1865, Quốc hội Hoa Kỳ cũng thông qua việc sửa đổi Hiến pháp lần thứ 13, bãi bỏ chế độ nô lệ. Chiến tranh khốc liệt ròng rã 4 năm, đến ngày 9-4-1865, tại làng Appomattox Court House, Virginia, tướng miền Nam là Robert E. Lee ký giấy đầu hàng với tướng Grant của Liên bang miền Bắc, nội chiến được kết thúc. Tướng Grant cho phép hàng quân miền Nam được tiếp tục giữ súng cá nhân và cả lừa ngựa. 

Ngày 14-4-1865, cờ Hoa Kỳ bay phất phới tại đồn Sumter là nơi cuộc nội chiến bắt đầu 4 năm trước. Tối hôm đó, tổng thống Lincoln cùng đệ nhất phu nhân là bà Mary đi xem vở kịch “Our American Cousin” (Người bà con Mỹ của chúng ta) tại Ford's Theater (rạp hát Ford), vào khoảng 10 giờ tối, John Wilkes Booth lén dùng súng ngắn bắn vào đầu tổng thống Lincoln, tổng thống Lincoln bất tỉnh và qua đời sáng hôm sau. Đến ngày 15-4-1865, Phó tổng thống Andrew Johnson là người miền Nam lên thay làm tổng thống, tiếp tục thực hiện những công cuộc tái thiết của Tổng thống tiền nhiệm. 

Trong 4 năm nội chiến tương tàn, đã gây tử thương khoảng 360.000 người Liên bang miền Bắc và gây tử thương khoảng 260.000 người Liên minh miền Nam. Chính sách khoan dung của bên thắng trận ở miền Bắc với bên thua trận miền Nam không có dị biệt đối xử, cùng bắt tay xây dựng đất nước. Nhờ vậy, nước Mỹ đã phát triển về mọi mặt: Quân sự, Kinh tế, Xã hội, Học đường, Kỹ nghệ v.v... đã đưa đất nước Hoa Kỳ thành công rực rỡ. Vì vậy, sau ngày “Nội chiến kết thúc, nước Mỹ có thể xem như là chốn thiên đường”. Ngày nay, Hoa Kỳ là cường quốc số 1 trên thế giới.

Nội chiến Việt Nam (1954-1975): 

Trong cuộc nội chiến tại Việt Nam kéo dài 21 năm (1954-1975) giữa hai miền Bắc-Nam. Đấy là cuộc chiến mà miền Bắc VN theo chủ nghĩa Cộng sản, được sự trợ giúp của phe Cộng sản là Nga cộng và Tàu cộng, còn miền Nam VN theo chủ nghĩa Tự do được sự hỗ trợ của đồng minh Hoa Kỳ. 

Trong suốt thời gian chiến tranh tàn khốc đã gây ra số tử thương được ước tính: Quân đội của VNCH bị tử thương khoảng: 250.000 người. Quân độ CSVN bị tử vong khoảng: 1.100.000 người, trong số này bao gồm chết vì chiến trận, chết vì bị máy bay trên đường xâm nhập vào Nam và chết vì bệnh tật. Thường dân Việt Nam bị chết khoảng: 3.000.000 người. Và hai nước láng giềng là: Cao Miên bị chết khoảng 70.000 người, Lào bị chết khoảng 50.000 người. Tổng kết quân đội các bên, kể cả quân Mỹ, Nam Hàn... giúp miền Nam; quân Tàu... giúp miền Bắc và thường dân Việt Nam, Miên và Lào, đã bị chết ước tính khoảng 4.480.000 người.

Ngày 30-4-1975, tổng thống bất đắc dĩ miền Nam là Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, quân CS Bắc Việt chiếm miền Nam Việt Nam. Bên thắng trận tự phong cho mình là “cách mạng” đã gian dối kêu gọi quân cán chính miền Nam “học tập cải tạo 10 ngày” sẽ về cùng xây dựng đất nước, nhưng mưu mô là tóm bắt hết vào tù vô thời hạn hay bắt giết (Mời xem bài viết: “Thảm sát hãi hùng”)! Sau đấy, với chế độ bao cấp, đổi tiền lừa lọc... Kế đến là những chính sách, lời lẽ léo lắt mỵ dân: Nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý (theo ý đảng), đảng cử dân bầu (theo ý đảng)... đã gây cho đất nước tang thương, toàn dân điêu đứng, khốn đốn!. 

Vì vậy, sau khi “Nội chiến kết thúc ngày 30-4-75, nước Việt Nam có thể xem như là nơi địa ngục”. Từ đấy, nhiều người phải đi làm lao nô nước ngoài để kiếm sống, nhiều cô gái trẻ đẹp phải sắp hàng cho đàn ông già nua hay tàn tật của nước ngoài chọn lựa làm vợ để mong thoát cái địa ngục mà bọn cai ngục là cán bộ CSVN!. Qua 39 năm dài (1975-2014), do chính quyền Cộng sản Việt Nam (CSVN) cai trị, đã chứng minh chắc chắn rằng đất nước và nhân dân VN đã/đang và sẽ bị tang thương. Do đâu khẳng định như vậy? Xin thưa:

- Về Lãnh thổ, lãnh hải: Chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã cắt nhượng ải Nam Quan, thác Bản Giốc, còn dâng hiến đất đai biển đảo cho Tàu cộng: Ngày 30-12-1999, gọi là phân định lại biên giới Việt-Trung, chính quyền CSVN đã nhượng cho Tàu cộng khoảng 700 km vuông, thuộc đất của các tỉnh Hà Giang, Lạng Sơn. Ngày 25-12-2000, chính quyền CSVN cắt nhượng tiếp vùng vịnh Bắc Bộ của Việt Nam cho Tàu cộng khoảng 11,000 km vuông. Ngày 1-11-2007, thủ tướng CSVN là Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định số 167, cho Tàu cộng quy hoạch phân vùng, khai thác quặng bô xít tại Tây Nguyên, với hàng ngàn người Tàu đến ở địa bàn này, là nơi có vị trí chiến lược quan trọng về an ninh và quốc phòng của VN?! Ngoài ra, người Tàu còn lập phố Tàu, trường đại học Tàu tại VN, chúng đang muốn biến nước VN thành tỉnh Quảng Nam của chúng?! 

Vậy CSVN đem quân đánh chiếm miền Nam Việt Nam gây ra biết bao máu xương chồng chất, để dâng toàn nước Việt Nam cho Tàu cộng thì đau đớn quá?!

- Về Ý thức Quốc - Cộng: Ngày xưa trong thời bị Bắc thuộc, các thái thú Tàu đã bóc lột dân ta tàn bạo và sau đấy thực dân Pháp đô hộ đã đày đoạ dân ta rất nhục nhằn. Vì vậy, nhân dân ta đã quật khởi, kiên cường đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi. Tuy nhiên, sự bóc lột và nhục nhằn ấy cũng chưa bằng lối cai trị quá tàn khốc của CSVN ngày nay. Vì sao? Vì ngày xưa, nhân dân ta bị ngoại xâm cai trị đàn áp dã man; chưa từng có hàng triệu người bỏ nơi chôn nhau cắt rốn đi tìm tự do. Nhưng sau hiệp định Genève (ngày 20-7-1954), hàng triệu người, từ miền Bắc di cư vào miền Nam Việt Nam để tìm đời sống tự do. Trong ngày và sau ngày 30-4-1975, Đồng bào miền Nam cả hàng triệu người Việt phải bỏ nước ra đi lánh nạn Cộng sản, chấp nhận mọi hung hiểm, chết chóc trên biển cả hãi hùng hay nơi rừng rú rậm rạp. Sau ngày 30-4-1975, Đồng bào miền Bắc đã được so sánh chế độ Cộng sản với đời sống Tự do, đâu là thiên đường đâu là địa ngục, nên nhiều người cũng tìm cách vượt biên vượt biển dù nguy hiểm tính mạng! Lý do nào lại xảy ra hiện tượng này???!!!

Sau năm 1975, CSVN lại cướp đoạt hoặc trưng thu ruộng vườn của nhân dân, gây nên cảnh tượng “Dân oan” ngặt nghèo, mà chữ “Dân oan” từ điển tiếng Việt chưa từng có trước đấy! Chính sách chiếm đoạt ruộng vườn tạo nên một thùng thuốc nổ chậm cực lớn, sẽ nổ tan tành chế độ cộng sản. Đấy là một “thế lực thù địch” chính CSVN tạo ra và CSVN sẽ nhận lấy hậu quả “gậy ông đập lưng ông” trong thời gian sắp tới.

- Về Kinh tế: Theo VN EXPRESS là báo trong nước, viết ngày 22-9-2012, “Chuyên gia kinh tế Đinh Thế Hiển cho rằng năm 2012 là giai đoạn kinh tế Việt Nam thực sự đụng chạm vào các vết thương để tìm biện pháp chữa bệnh”. Theo đài BBC ngày 28-1-2014, “Nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc đạt mức 23.7 tỉ đô la trong năm 2013, tăng 45% so với năm 2012, theo thông tin từ Tổng Cục Hải Quan”. 

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh từng nói với BBC rằng mức nhập siêu lớn: "gây ra sức ép rất nặng đối với kinh tế Việt Nam vì nó khiến Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào Trung Quốc. Một nền kinh tế nhập siêu nặng như vậy thì phải chịu nhiều hậu quả, một là mất ngoại tệ, hai là mất thị trường trong nước và ba là công nhân trong nước mất công ăn việc làm. Khi người tiêu dùng Việt Nam mua hàng của Trung Quốc thì đồng nghĩa với việc họ trả lương cho công nhân Trung Quốc” . 

BBC còn đưa tin chua chát vào ngày 4-4-2014: “Các nhóm lợi ích có thể đang nhòm ngó một số lĩnh vực nhất định trong nền kinh tế Việt Nam qua đợt cổ phần hóa doanh nghiệp tới đây để thủ lợi, theo cảnh báo của nhà quan sát từViệt Nam!”. Trong khi ấy ông Nicolas Audier, Ủy viên Ban điều hành của Phòng thương mại châu Âu lo ngại: “Những vấnđề dẫn đến sự đình trệ hiện nay bao gồm nạn tham nhũng, thực thi luật pháp một cách không đồng đều, những rắc rối về hành chính và tình trạng thiếu minh bạch!.

- Về Đời sống Nhân dân và nạn tham quan: Theo báo Tin Mới viết: “Trước đó, sự việc cô giáo và học trò ở bản Sam Lang, xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên phải chui vào túi bóng để qua sông đã gây xôn xao dư luận trong nước. Thậm chí, báo chí nước ngoài cũng đưa tin về vụ việc này. Thiết nghĩ, chỉ những nơi miền núi xa xôi hỏe lánh, điều kiện kinh tế địa lý khó khăn mới có những cảnh tượng như vậy. Thế mà, ngay giữa thủ đô hoa lệ (thôn Ngọc Liễu, xã Nghiêm Xuyên, huyện Thường Tín, Hà Nội) người dân cũng phải "đu" dây để qua sông!”. 

Trong khi ấy, các tham quan CSVN cứ tiếp tục quơ quét tài sản của nhân dân và của quốc gia không lúc nào ngưng nghỉ. Nếu ai muốn biết, xin copy: “Danh sách trên 300 cán bộ Cộng Sản có tài sản vài trăm triệu Mỹ kim” click vào Google sẽ thấy số tiền khổng lồ của các tham quan CSVN đã quơ quét; được các trang mạng: Motgoctroi, Phong trào Dân chủ Việt Nam, Quảng Ngãi Nghĩa Thục... đã liệt kê, tôi chỉ liệt kê 10 tham quan CSVN mà thôi, bản danh sách tới 300 tham quan VC, nếu liệt kê hết, tôi lo ngại sẽ làm bẩn mắt độc giả:

1- Lê Đức Anh, Cựu Chủ tịch nhà nước CSVN: 2 tỷ 215 triệu USD.
2- Trần Đức Lương, Chủ tịch nhà nước: 2 tỷ 100 triệu USD.
3- Phan Văn Khải và con trai: trên 2 tỷ USD.
4- Đỗ Mười, Cựu Tổng Bí Thư CSVN: 1 tỷ 90 triệu USD.
5- Nguyễn Tấn Dũng, Đệ nhất Phó Thủ Tướng: 1 tỷ 780 triệu USD.
6- Nguyễn Văn An, Chủ tịch Ban Chấp Hành Trường Đảng CSVN: 1 tỷ 70 triệu USD.
7- Lê Khả Phiêu, Cựu Tổng Bí Thư Đảng: 1 tỷ 430 triệu USD.
8- Nguyễn Mạnh Cầm, Phó Thủ Tướng: 1 tỷ 350 triệu USD.
9- Võ Văn Kiệt, Cựu Tổng Bí Thư Đảng: 1 tỷ 15 triệu USD.
10- Nông Đức Mạnh, Chủ Tịch Quốc Hội: 1 tỷ 143 triệu USD...

Nhà chính trị lỗi lạc Nguyễn Trãi đã từng nhắc nhở: “Chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân”. Nếu đảng CSVN chỉ biết “đục nước béo cò” để quơ quét tài sản của Nhân dân và của Quốc gia, thì đấy là những tên tội đồ dân tộc chắc chắn sẽ bị toàn dân lật đổ. Hiện tượng này đã/đang nhen nhúm: 

Theo Danlambao ngày 14-4-2014, đăng tin (có Video): “Cảnh sát giao thông đụng độ trai bản H'Mông”, theo nội dung clip, do công an thu giữ xe gắn máy của người dân, nên một nhóm người H'Mông đã kéo đến tranh cãi lớn tiếng và đã lấy lại xe bằng hành động cương quyết. Người H'Mông tính tình cần cù mộc mạc đã phát biểu rất thật và rất đúng: “Mặc áo của nhân dân, ăn cơm nhà nước cũng của nhân dân. Không có dân chúng mày sống chó gì?!” 

Báo Calitoday ngày 14-4-2014, đăng tin: “Việt Nam: Người nông dân nổi dậy” ở đoạn kết của bài viết đã mong mỏi và thẳng thắn nói về tâm tư của người Việt: “Khi người dân không còn sợ chính quyền và công an, thì chính quyền CSVN và bộ máy đàn áp của họ bắt đầu sợ người dân. Và nếu tất cả mọi nơi đều theo gương của người dân xã Bắc Sơn (Hà Tĩnh), thì ngày tàn của cộng sản trên quê hương sẽ sớm đến!”. 

Đúng vậy, chủ nghĩa Marx-Lenin độc địa và lỗi thời đã vứt vào sọt rác từ lâu, các nước Cộng sản Đông Âu đã sụp đổ (1989) và Cộng sản Liên Xô đã rã rời (1991), thứ rác rưới này vì sao Việt Nam lại khư khư giữ nó?! Hiện nay cán bộ các cấp của CSVN từ trung ương đến địa phương đa số thiếu tri thức, nên không đủ khả năng lèo lái quốc gia, lại tham lam kể cả cán bộ trong nước cũng như khi họ có dịp ra nước ngoài. CSVN luôn quy lụy vào Tàu cộng là kẻ thù truyền kiếp, nên cương thổ VN đã và sẽ cắt xén để hiến dâng cho Tàu hay cương thổ VN sẽ bị quân Tàu nuốt chửng?! 

Mới đây, vào ngày 18-4-2014, báo VN EXPRESS đưa tin “7 người chết trong vụ nổ súng ở cửa khẩu Quảng Ninh”, bài báo viết: “Bị bắt vì nhập cảnh trái phép, nhóm người Trung Quốc đã cướp súng của bộ đội biên phòng cửa khẩu Bắc Phong Sinh (Quảng Ninh), bắn xối xả. Được biết: 7 người đã chết trong đó có 2 chiến sĩ biên phòng và một số người bị thương (trong đó có 4 chiến sĩ biên phòng Việt Nam).” Thật ra, những người này gọi là người Tàu, nhưng chính là dân Duy Ngô Nhĩ ở “Khu tự trị Tân Cương” (Mời xem: “Nhìn Khu Tự Trị Tân Cương, Nghĩ Về VN”), bị quân Tàu cai trị hà khắc nên cố vẫy vùng đào thoát ra khỏi khu tự trị, vì họ lầm là Việt Nam còn độc lập thật sự, chứ không biết sự thật chính quyền CSVN đã lệ thuộc Tàu?! Dân tôi ngậm ngùi thương cảm 7 người vừa qua đời, trong đấy có 2 chiến sĩ biên phòng và 5 người Duy Ngô Nhĩ bị quân xâm lược Tàu đuổi họ đến đường cùng! Dân tôi còn nghĩ rằng hồn thiêng sông núi của Lạc Hồng đã cảnh báo toàn dân mình, kể cả cả cán bộ các cấp của CSVN (chưa đang tâm làm thái thú cho quân xâm lược Tàu), hãy nhìn dân Duy Ngô Nhĩ, đừng để nước Việt sẽ là khu tự trị của Tàu cộng tương lai?!.

Vì sao, chính quyền CSVN vẫn khư khư đội vòng kim cô 16 chữ mạ vàng độc địa là lý do gì?! Thế nên, muốn nước Việt Nam sinh tồn chỉ duy nhất là thay đổi chế độ rác rưới này mà thôi?!

(Viết cho ngày 30 tháng Tư).

Ngày 23-4-2014





View My Stats